Ung thư phổi hiện là bệnh ung thư phổ biến thứ hai tại Việt Nam. Tiên lượng bệnh xấu vì đa phần người bệnh vào viện thì đã ở giai đoạn muộn.

Theo Globocan năm 2018, ung thư phổi là loại ung thư phổ biến nhất (11,6%) và có tỷ lệ tử vong cao nhất (18,4%) trong các loại ung thư. Tại Việt Nam, ung thư phổi đứng thứ 2 sau ung thư gan cả về tỷ lệ mắc và tỷ lệ tử vong (với tỷ lệ mắc 14,4% và tỷ lệ tử vong là 18% năm 2018).. Đây là một trong số những bệnh ung thư nguy hiểm và chiếm tỷ lệ tử vong cao, do thường được phát hiện muộn và khó điều trị.

PGS.TS Lê Văn Quảng, Giám đốc Bệnh viện K Trung ương ( Hà Nội ) cho biết có đến 75% bệnh nhân ung thư phổi được phát hiện khi bệnh đã ở giai đoạn muộn. Điều này khiến việc điều trị gặp nhiều khó khăn, chỉ có thể giúp kéo dài thời gian sống, tăng chất lượng sống cho người bệnh.

Vì sao 75% bệnh nhân ung thư phổi phát hiện bệnh ở giai đoạn muộn? - Hình 1

PGS.TS Lê Văn Quảng, Giám đốc Bệnh viện K Trung ương ( Hà Nội ).

Dù đã đạt được nhiều tiến bộ trong chẩn đoán, điều trị song nhiều bệnh ung thư vẫn còn là thách thức lớn trong điều trị, trong đó có ung thư phổi . Ung thư phổi đều được xếp vào nhóm bệnh ung thư khó phát hiện sớm. Cũng vì thế, bệnh tiên lượng rất xấu.

Ung thư phổi là bệnh hay gặp, hiện có có nhiều tiến bộ trong điều trị (thuốc mới, kỹ thuật xạ trị mới ). Bệnh viện K Trung ương đang nghiên cứu theo hướng này nhằm cải thiện chất lượng điều trị.

“Ung thư phổi diễn biến “âm thầm”, chỉ có triệu chứng khi đã ở giai đoạn muộn. Hiện cũng chưa có phương pháp phát hiện sớm bệnh thực sự có hiệu quả, chụp X-quang không phát hiện được sớm tổn thương”, PGS Quảng nói.

Theo chuyên gia, hiện nay sàng lọc ung thư phổi bằng chụp cắt lớp liều thấp đang được nghiên cứu cũng là một tiến bộ lớn của lĩnh vực sàng lọc ung thư. Tuy nhiên, biện pháp sàng lọc này mới chỉ dừng ở mức khuyến cáo.

Cách sàng lọc này với phần mềm vi tính hỗ trợ diễn giải hình ảnh chụp chính xác và giảm chi phí. Liều chụp được đặt ở mức 2mSv (so với liều chuẩn 7mSv), giảm nguy cơ tiếp xúc tia xạ so với chụp cắt lớp vi tính ngực thông thường.

Vì sao 75% bệnh nhân ung thư phổi phát hiện bệnh ở giai đoạn muộn? - Hình 2

Ung thư phổi khó phát hiện sớm do các triệu chứng ở giai đoạn đầu thường mờ nhạt thậm chí không có biểu hiện.

Các dữ liệu nghiên cứu gần đây cho thấy, với những bệnh nhân có nguy cơ cao bị ung thư phổi, việc tiến hành sàng lọc chẩn đoán sớm ung thư bằng chụp cắt lớp với liều xạ thấp hàng năm tăng được thêm 20% số trường hợp ung thư phổi được phát hiện khi so với chụp X-quang phổi thông thường. Chính nhờ những lợi ích rõ rệt như vậy, do đó, nhiều khuyến cáo hiện nay đang đề nghị đưa chụp cắt lớp vi tính ngực liều xạ thấp, tiến hành hàng năm là phương pháp tốt để sàng lọc, phát hiện ung thư phổi sớm.

Test chẩn đoán được coi là dương tính khi phát hiện các nốt không calci hóa từ 4mm trở lên đối với chụp cắt lớp vi tính liều thấp, và nốt không calci hóa bất kỳ trên X quang ngực.

Hướng dẫn của Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ về tầm soát ung thư phổi

Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ (ACS) khuyến nghị tầm soát ung thư phổi hàng năm bằng phương pháp chụp cắt lớp CT scan ngực liều thấp cho những người từ 55 đến 74 tuổi, có sức khỏe khá tốt và đáp ứng các điều kiện sau:

– Là những người hút thuốc hiện tại hoặc những người đã bỏ thuốc trong 15 năm qua.

– Có tiền sử hút thuốc ít nhất 30 năm. Đây là số năm bạn hút thuốc nhân với số bao thuốc mỗi ngày. Ví dụ: một người hút 2 bao thuốc mỗi ngày trong 15 năm [2 x 15 = 30] có 30 năm hút thuốc. Một người người hút 1 gói mỗi ngày trong 30 năm [1 x 30 = 30] cũng có 30 năm hút thuốc.

Bệnh nhân ung thư ngày càng trẻ hóa

Mặc dù đã đạt được nhiều tiến bộ trong chẩn đoán, điều trị, song bệnh ung thư vẫn còn là thách thức lớn tại nước ta.

Theo số liệu được công bố của Viện Nghiên cứu ung thư Quốc gia, mỗi năm Việt Nam ghi nhận khoảng 165.000 ca ung thư mới, 115.000 ca tử vong.

Bệnh nhân ung thư ngày càng trẻ hóa - Hình 1
Nghiên cứu tế bào ung thư.

Trong các loại ung thư, ung thư phổi, tụy được xếp vào nhóm bệnh ung thư khó phát hiện sớm. Đa phần bệnh nhân phát hiện bệnh khi đã ở giai đoạn muộn, việc điều trị không còn nhiều ý nghĩa.

PGS.TS Lê Văn Quảng – Giám đốc Bệnh viện K Trung ương cho biết, số bệnh nhân đến khám và điều trị vì ung thư qua từng năm đều tăng. Nhiều nhất là ung thư phổi, dạ dày, ung thư vú, cổ tử cung, đại trực tràng. Đáng lưu ý, xu hướng trẻ hóa bệnh nhân ung thư ở Việt Nam rất rõ.

Theo những số liệu mới nhất, bệnh ung thư ở Việt Nam đang có xu hướng ngày một gia tăng với khoảng 165.000 ca ung thư mới, 115.000 ca tử vong mỗi năm. Tổ chức Y tế thế giới (WHO) xếp Việt Nam nằm trong 50 nước thuộc top 2 của bản đồ ung thư (50 nước cao nhất thuộc top 1). Chúng ta ở vị trí 78/172 quốc gia, vùng lãnh thổ khảo sát với tỉ lệ tử vong 110/100.000 dân, ngang với tỉ lệ tại Phần Lan, Somalia, Turmenistan.

PGS.TS Lê Văn Quảng cho hay, nếu Việt Nam thành lập được một bản đồ gồm tất cả các loại ung thư trên cả nước, chúng ta có thể dựa vào bản đồ dịch tễ đó để nhận định về xu hướng của các bệnh ung thư, từ đó có chiến lược sàng lọc, phát hiện sớm, tập trung nghiên cứu điều trị giúp tăng tỉ lệ chữa khỏi.

Theo ước tính, 40% số ca bệnh ung thư có thể dự phòng, 30% có thể chữa khỏi nếu phát hiện sớm và điều trị kịp thời. Với các biện pháp điều trị ung thư hiện tại có thể cứu 30% số bệnh nhân ung thư còn lại.

“Tuy nhiên hiện tại chúng ta chưa có kinh phí để triển khai đồng bộ bản đồ tất cả các loại ung thư trên cả nước” – PGS.TS Lê Văn Quảng thừa nhận.

Đồng tình với ý kiến trên, Thứ trưởng Bộ Y tế Trần Văn Thuấn cho rằng, để điều trị ung thư một cách toàn diện cho người bệnh, ngoài kỹ thuật, thuốc mới còn rất cần những dữ liệu từ các nghiên cứu lâm sàng.

“Kỹ thuật, thuốc mới trong điều trị ung thư được nghiên cứu và tiến bộ hàng ngày, đòi hỏi bác sĩ phải biết quyết định dựa trên các bằng chứng khoa học để mang lại lợi ích tốt nhất cho người bệnh. Mặt khác, để có thể đưa ra được quyết định điều trị chính xác cho bệnh nhân, các bác sĩ cần dựa trên nhiều cơ sở dữ liệu và thông tin y khoa, trong đó dữ liệu từ các nghiên cứu lâm sàng đóng vai trò rất quan trọng” – Thứ trưởng Bộ Y tế cho biết.

Được biết, Bệnh viện K đang thực hiện 3 đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước về 3 bệnh ung thư là: phổi, tuỵ và khoang miệng. Ngoài ra, còn 5 đề tài cấp Bộ nghiên cứu các loại ung thư khác.

Trong đó, ung thư phổi là bệnh hay gặp, hiện có có nhiều tiến bộ trong điều trị (thuốc mới, kỹ thuật xạ trị mới). Ung thư tụy là bệnh khó điều trị, tiên lượng rất xấu vì thế vấn đề đặt ra là cần phát hiện sớm bệnh. Hiện có nhiều công nghệ sinh học để phát hiện sớm, Bệnh viện đang nghiên cứu theo hướng này nhằm cải thiện chất lượng điều trị.

Tương tự với bệnh ung thư khoang miệng, hiện có nhiều phương pháp xác định giai đoạn bệnh chính xác hơn, từ đó giúp điều trị đạt hiệu quả cao hơn. Chẳng hạn như vấn đề xạ trị trước kia có nhiều tai biến, hiện nay với công nghệ xạ trị mới góp phần giảm tai biến nhiều hơn.

Với mục đích hỗ trợ các nhà khoa học Việt Nam làm nghiên cứu, tạo tiền đề cho những bước tiến mới trong chẩn đoán và điều trị ung thư, Chương trình hỗ trợ nghiên cứu và công nghệ trong ung thư V-CART đã được khởi động. Đây là sáng kiến của Viện Ung thư Quốc gia và Bệnh viện K, với mục tiêu hỗ trợ các nhà khoa học thực hiện nghiên cứu chất lượng cao, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu phong phú và tin cậy tại Việt Nam.

LEAVE A REPLY